08-03-2011

CÂY THẦN KỲ ( SYNSEPALUM DULCIFICUM DANIELL)

BƯỚC ĐẦU TRỒNG THỬ NGHIỆM VÀ TÁCH CHIẾT HOẠT CHẤT MIRACULIN TRONG TRÁI CÂY THẦN KỲ ( SYNSEPALUM DULCIFICUM DANIELL)

TRẦN DANH THẾ, VŨ VĂN ĐỘ, NGÔ KẾ SƯƠNG

Viện Sinh Học Nhiệt Đới TP. HCM
TÓM TẮT
      Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành trồng thử nghiệm cây thần kỳ (Synsepalum dulcificum) trong điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tại thành phố Hồ Chí Minh. Các điều kiện sinh trưởng cũng như đặc điểm sinh học cây thần kỳ đã được ghi nhận. Phân tích thành phần hóa học trong thịt quả cho thấy có chứa tinh dầu, carotenoid, phytosterol, acid béo, flavonoid, polyphenol, acid hữu cơ, saponin steroid, đường khử, hợp chất uronic. Hoạt chất miraculin trong trái cây thần kỳ được chiết trong dung dịch muối loãng (NaCl 0,5M)  và qua tinh chế bằng phương pháp sắc ký trao đổi ion thu được hoạt chất có độ tinh sạch cao và được ghi nhận là có khả năng biến đổi vị chua của acid citric trở nên ngọt tương đương với độ ngọt của đường saccharose 0,4M. Đặc điểm này mở ra nhiều kỳ vọng trong việc trồng cây thần kỳ với quy mô lớn để sản xuất miraculin, ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, y dược trong tương lai.
Từ khóa: miraculin, miracle fruit, Synsepalum dulcificum, glycoprotein, sắc ký trao đổi ion, cây thần kỳ
I. GIỚI THIỆU
      Cây Synsepalum dulcificum là loại cây tiểu mộc, phát triển chậm có nguồn gốc từ Tây Phi. Năm 1725 nhà thám hiểm người Pháp là Reynaud dés Marchais phát hiện ra cây này khi ông ghé lại một ngôi làng ở Ghana và thấy rằng .....(liên hệ tác giả 01699927027)....nhưng sau khi nhai một loại trái cây màu đỏ thì các vị chua này trở thành vị ngọt, người địa phương cũng sử dụng loại trái cây này để làm ......(liên hệ tác giả 01699927027) ... Đến năm 1852, cây này mới được Daniel mô tả tỉ mỉ về đặc tính kỳ lạ này và phát hiện ra chất Miraculin là thành phần chính của cây, ông định danh là Synsepalum dulcificum, họ Sapotaceae [6]. Và đồng thời, đặt tên là Miracle berry “cây kỳ diệu”. Thứ trái cây này có chứa chất ......(liên hệ tác giả 01699927027)... bản chất là một loại glycoprotein, có khả năng biến vị chua… thành vị ngọt sau khi nhai loại quả này[7]. Đến năm 1968, (liên hệ tác giả 01699927027) mới được ly trích đầu tiên bởi Kenzo Kurihara và Lloyd Beidler, đại học Florida [5]. Chất ...(liên hệ tác giả 01699927027)... là loại chất điều vị hứa hẹn nhiều triển vọng trong tương lai. Người ăn kiêng có thể ăn cả kg chanh mà vẫn thấy ngọt. Hơn nữa (liên hệ tác giả 01699927027) năng lượng nên sẽ là loại trái cây lý tưởng cho những người có nhu cầu muốn giảm cân, là chất có thể sử dụng thay thế cho các loại đường chứa nhiều năng lượng hay là những chất ngọt nhân tạo có thể gây ra những tai biến cho người tiêu dùng. Loại quả đặc biệt này cũng được sử dụng như một chất làm ngọt để những người bị tiểu đường phải ăn kiêng có thể sử dụng các chất có hàm lượng calo thấp thay thế các chất ngọt có hàm lượng calo cao như đường ăn, tinh bột v.v. Nếu như người bệnh phải điều trị bằng những thứ thuốc đắng đến không thể chịu nổi thì có thể ăn một quả thần kỳ trước khi uống thuốc[12]. Bên cạnh đó cây thần kỳ có thể sử dụng như một loại cây cảnh tuyệt đẹp, cây cho quả sai, mọng, chín đỏ rực và được nhiều người rất ưa thích.
      Cây thần kỳ từ Đài Loan được du nhập vào Việt Nam  khoảng (liên hệ tác giả 01699927027) . Có thể nói rằng đây là giống cây mới, quí và đang còn rất hiếm ở nước ta nên những nghiên cứu khoa học trên giống cây này còn rất hạn chế.
      Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi đã tiến hành điều tra và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, đặc điểm thích nghi của cây thần kỳ với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở Việt Nam để chọn ra vùng đất thích hợp và cho năng xuất cao, định hướng cho việc sản xuất trên qui mô lớn. Khảo sát một số thành phần hoá sinh trong thịt trái và đề xuất phương pháp tách chiết...(liên hệ tác giả 01699927027).tranthexanhviet.blogspot.com.  nhằm tạo cơ sở cho những nghiên cứu về sau.


11-10-2010

1.        Giới thiệu về cây Paulownia fortunei (cây Hông)

1.1        Vị trí phân loại

                        Giới (regnum): Plantae

                        Ngành (division): Magnoliophyta

                        Lớp (class): Magnoliopsida

                        Phân lớp (subclass): Asteridae

                        Bộ (ordo): Lamiales

                        Họ (familia): Scrophulariaceae

                        Chi (genus): Paulownia

                        Loài (species): Paulownia fortunei

1.2        Phân bố

                        Chủ yếu phân bố ở những vùng có khí hậu ôn đới như phía nam nước Mỹ, Đông Á, châu Úc. Ở Trung Quốc, chúng phân bố từ phía bắc (Bắc Kinh, Thiên An) xuống phía Nam (Quảng Đông, Quảng Tây), từ Đông (Đài Loan) sang Tây. Ở vùng núi, có thể sinh sống ở độ cao lên đến 2400 m

1.3        Hình  thái

                        Giống Paulownia có vỏ thân cây màu xám hoặc đen, tán lá thưa, vòm lá có hình dù hoặc xoắn ốc. Trên mọi phần của cây, trừ những cành già, được phủ một lớp lông tuyến nhầy, lông hình cây hoặc hình sao. Hầu hết các giống Paulownia đều có sự phân đôi cành giả vì chồi bên ngoài cùng sẽ bị khô đi sau mùa đông. Riêng Paulownia fortunei vẫn phát triển chồi ngoài cùng này thành nhánh mới. Ở cây non có một giai đoạn ấu niên, khi đó, lá rất lớn với cuống lá dài, mép lá răng cưa, mọc đối hoặc đôi khi mọc thành vòng. Ở cây trưởng thành, lá nhỏ hơn, mép thẳng hoặc lượn sóng. Chùm hoa có 2-5 bông có hoặc không có cuống. Chúng được tạo ra từ những nách lá bé xíu vào mùa hè hoặc mùa thu. Hoa có cuống và có đốt ở đầu ngọn. Đài hoa nhiều thịt, hình chuông và có 5 thuỳ hình tam giác không bằng nhau, có nhiều lông bao phủ. Thông thường, những lông nhỏ này rụng khi hoa nở. Tràng hoa lớn, màu từ tím đến trắng, cánh hoa trên chia hai thuỳ, cánh hoa dưới chia 3 thuỳ dài. Ống hoa hình chuông thường cong về trước khoảng 5mm tính từ đáy hoa, sau đó mở rộng dần. Gần lá đài, cánh hoa trên hướng xuống làm tràng hoa trông phẳng. Bên trong tràng hoa có nhiều điểm hoặc sọc màu tím hoặc màu vàng. Nhị hoa dài bằng khoảng một nửa chiều dài tràng hoa. Nhụy dài bằng hoặc hơn nhị. Noãn có hai ngăn. Quả cũng được chia ngăn, hình trứng hoặc hình ê lip. Vỏ quả biến đổi từ dầy đến mỏng, đôi khi hóa gỗ. Mặt bên trong vỏ có thể sần sùi hoặc trơn láng. Thực giá noãn dày cùi, nhăn nheo và có nhiều hình dạng khác nhau. Có rất nhiều hạt dạng ê lip, rất nhỏ, có màng và có những cánh. Vỏ bao hạt gồm hai lớp tế bào, lớp trong là những tế bào hoá gỗ có vách dầy, và lớp ngoài trong suốt. Hạt có nội nhũ.

                        Hình thái cây Paulownia thường thay đổi trong quá trình tăng trưởng rất nhanh của chúng. Do đó, chỉ có thể dựa trên một vài đặc điểm sinh thái ổn định như chiều dài cụm hoa, độ sâu của thùy đài hoa, hình dạng của tràng hoa, các ngăn trong noãn, thực quả noãn, độ dày của vỏ quả, v.v… để xác định loài cho chúng. Các cây cùng giống nhưng có nguồn gốc khác nhau cũng có thể có hình thái khác nhau. Paulownia là cây thụ phấn chéo nhờ côn trùng, do đó dễ thu nhận được các giống lai và do đó, cây có nhiều hình thái khác nhau.

1.4        Đặc tính sử dụng

                        Paulownia là cây có khả năng thích ứng cao và cho gỗ lớn rất nhanh. Trong điều kiện bình thường, một cây Paulownia 10 năm tuổi có đường kính ở tầm cao ngang ngực khoảng 30 - 40 cm và cho khoảng 0,3 – 0,5 m3 gỗ, còn trong điều kiên tối ưu, chúng có thể cho gỗ trong vòng 5 đến 6 năm tuổi.

                        Gỗ Paulownia (thường được gọi là gỗ kiri) rất nhẹ nhưng chắc, có khả năng ít thấm nước và chống mối mọt, dễ sấy khô, có nhiều vân gỗ đẹp và dễ tạo hình. Chúng còn có đặc tính khó cháy do hàm lượng nhựa thực vật trong gỗ rất thấp. Do đó, chúng rất thích hợp để làm đồ gỗ nội thất, gỗ dán, và nhạc cụ. Cây hai năm tuổi đã có thể sử dụng làm bột giấy.

                        Paulownia mọc lá và rụng lá muộn, hệ thống rễ sâu, nhánh và lá cây thưa, nên đặc biệt thích hợp cho việc trồng xen. Trồng xen với Paulownia giúp cải tạo vùng tiểu khí hậu cho cây trồng, và làm gia tăng năng suất đáng kể.

                        Lá và hoa Paulownia khá giàu đạm, có thể làm phân bón, cải tạo đất và thức ăn gia súc rất tốt. Hoa Paulownia lớn, tạo nguồn tốt cho ong lấy mật. Hoa rực rỡ và nở rất đẹp vào mùa xuân, xanh tốt và cho bóng mát vào mùa hè, do đó, chúng rất thích hợp cải tạo môi trường, cải tạo cảnh quan của thành phố và khu công nghiệp.

                        Hệ thống rễ ăn sâu xuống đất, khoảng 2 mét sâu đối với 1 cây cao 3 mét, do đó, cây Paulownia đặc biệt thích hợp cho việc tái tạo rừng cho những vùng đồi trọc và cải tạo vùng tiểu khí hậu.

1.        Các nghiên cứu in vitro trên cây Paulownia
                        Các nghiên cứu cây Paulownia in vitro được công bố khá hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc nhân nhanh. Các vật liệu sử dụng chủ yếu là đỉnh sinh trưởng, lá và cuống lá (Song và cs, 1991; Rao và cs, 1993), chồi bên và chồi ngọn (Bruneau, 1988; Burger và cs, 1985), trụ hạ diệp (Jagannathan, 1986) trên các đối tượng chính là Paulownia tomemtosa, Paulownia catalpifolia, thông qua hình thức nảy chồi nách để tạo ra một số lượng lớn cây con trong thời gian ngắn. Ngoài ra, có một vài báo cáo nghiên cứu về tách và nuôi cấy túi phôi (Zhou và Yang, 1984) ; tạo cây sạch bệnh từ chồi đỉnh (Song và cs, 1990). Một số công bố về việc tạo mô sẹo và tái sinh cây Paulownia bằng vật liệu trụ hạ diệp, tử diệp, và ngọn chồi của Paulownia tomentosa (Rozga và cs, 1993), tạo mô sẹo từ cuống lá non Paulownia tomentosa (nhóm nghiên cứu của Matsushita – Elec., 1987), tạo dịch treo từ mô sẹo lá Paulownia taiwaniana (Ho và cs, 1999).
                        Trong những năm gần đây, cây Paulownia cũng được nghiên cứu khá nhiều ở nước ta. Các công trình của Viện Sinh học Nhiệt đới bao gồm nhân giống bằng các phương pháp nuôi cấy chồi bên và cuống lá (Đoàn Thị Ái Thuyền và cs, 2000), nuôi cấy lớp mỏng (Nguyễn Nhẫn Hoài và cs, 2000; Dương Tấn Nhật và Bùi Văn Lệ, 2003), nghiên cứu các ảnh hưởng vật lý của môi trường nuôi cấy lên sự phát triển của cây in vitro (Nguyễn thị Quỳnh và cs, 2000)





 

 

2.       

mua giống trầu bà chân vịt xin liên hệ Trần Danh Thế Tell: 01699927027-

 Nhân giống, cung ứng cây trầu bà chân vịt
Kỷ sư: Trần Thế
 01699927027


I.Cây philodendron selloum (trầu bà) và lợi ích của nó.
 
I.1Cây philodendron selloum (trầu bà).
- Giới(kingdom):plantae
- Ngành(division):magnoliophyta
- Lớp(class):liliopsida
- Bộ(order):arles
- Họ(family):araceae
- Chi(genus):philodendron
- Loài(species):p.selloum
I.2  Chi philodendron.
- Philodendorn có khoảng 200 loài và nhiều giống lai khác nhau, thuộc lớp đơn phân tử diệp, họ môn nước, thân dạng bụi, dạng đứng thẳng hoặc dạng leo, thích nghi trong điều kiện ánh sáng cao và nhiệt độ thấp,độ ẩm cao. Phân bố rộng, ở những cánh rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới.đặc biệt ở khu vực rừng rậm nam mỹ người ta tìm thấy trên 65 loài. Philodendron được tìm thấy nhiều ở Braxin, Argentina, Paraguay,…có một số loài philodendron đã được thuần hóa và dùng làm cây cảnh, bao gồm: p.scandens,P.Radiatum, P.Bipennifolium, P.Pertusum, P.Sqamiferum, P.Bipinnatifidum, P.Selloum, P.Wendlandi, P.Cordatum
I.3   Loài philodendron selloum.
- Cây philodendron selloum có nguồn gốc từ rừng rậm amzon thuộc Braxin.Philodendron có nguồn nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là cây tình yêu, còn Selloum là tên của một người đức FRIEDRICH SELLO(1789-1831), một vị khác du lịch nam mỹ.
I.3.1  Đặc điểm thực vật học.
-P.Selloum thuộc cây thân thảo, lá rộng hình răng cưa sâu, có dạng bụi đơn thân, nguồn gốc từ nam mỹ.sống tốt trong điều kiện thiếu ánh sáng, chịu được điền kiện khí hậu lạnh, có thể sống ở nhiệt độ đóng băng.cây có thể cao đến 3,6-4.7m, lá trải rộng 3-4,5m,có thể sống tới 15-20 năm.
-Rễ chùm,nhưng số lượng rễ ít, kích thước to,giư vai trò quan trọng giúp cây đứng vững, rễ cây bị úng khi đất không thông thoáng tốt.Rễ cây cũng góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ của cây.
-Tán lá rộng, lá mọc thao đường xoắn ốc,cuống lá lớn hơn thân.. Lá chia cắt sâu, có hình mũi tên, cấu trúc đơn giản, gân lá mọc đối xứng. Lá có màu xanh tươi quanh năm, lâu rụng, dưới lá gần cuống có màu đỏ nâu. Lá có thể dài 1m, rộng 0,3-0,4m.
- Hoa có cấu trúc như họ Môn (Araceae), có mủ màu xanh bao ngoài, bên trong có lõi màu trắng. Cây có kích thước lớn và sống ít nhất 15-20 năm tuổi mới có hoa.trên lõi này có ít nhất 3000 hoa nhỏ, bao gồm hoa đực và hoa cái. Hoa đực nằm ở phía trên, hoa cái nằm ở phía dưới, ở giữa là những hoa phấn bất thụ. Những hoa bất thụ này có thể phát sinh ra nhiệt, nhiệt này dùng để duy trì nhiệt độ hoa luôn ở 450C khi nhiệt độ bên ngoài từ 5 đến 250C. Nguồn năng lượng nhiệt được sản sinh nhờ tích lũy và chuyển hóa chất béo của những hoa bất thụ (d.walker và cộn sự) giúp hoa thụ. phấn.một ví dụ điển hình cho sự tiến hóa(t.ombrello)
Quả cây chưa được biết nhiều, có màu xanh, võ mền.
I.3.2 Kỹ thuật trồng.
o             Giống.
- Cây P.Selloum được nhân giống vô tính bằng chiết thân, giâm cuống lá nhưng cho năng suất không cao, một nguyên nhân làm giá cây rất cao trên thị trường.Hiện nay, cây P.Selloum chủ yếu nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô. Quá trình nhân giống này đă được áp dụng tại một số nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao như Mỹ và Nhật Bản…tại Việt Nam ,Viện Sinh Học Nhiệt Đới đang nghiên cứu, áp dụng quy trình nhân giống này để sản xuất cây giống vơí quy mô lớn.
o    Điều kiện nuôi trồng và chăm sóc.
- Đất trồng cây P.Selloum rất đa dạng như đất cát, đất sét, đất pha, đất hơi kiềm, đất acid.Tuy nhiên rễ cây rất dễ bị úng nên đất trồng phải tơi xốp, thoát nước tốt thoáng khí. Do đó, cây phát triển tốt nhất trên loại đất tơi xốp giữ ẩm tốt,ph đất 5,6-7,5,đất pha tro trấu thích hợp nhất,cây P.Selloum chịu mặn kếm.
- P.Selloum có thể thích nghi với nhiều điều kiện ánh sáng khác nhau như ánh sáng trực tiếp, hoặc bóng râm.Tuy nhiên, cây phát triến tốt nhất trong điều kiện ánh sáng thấp, lá cây có màu xanh đậm. Nhiệt độ thích hợp cho cây P.Selloum là 210C.
- Cây con cần tưới nước bón phân thường xuyên mỗi tuần 1 lần, phân tưới cho cây là phân N-P-K 30-10-10, giúp cây phát triển tốt bộ lá và rễ. Nếu chăm sóc tốt thì 1 năm cây sẽ trưởng thành.
Cây P.Selloum rất dễ chăm sóc và ít sâu bệnh. Cần rửa lá cây bằng xà phòng 1 tháng 1 lần, nhằm tăng cường độ sáng bóng cho lá cây, tránh nước xà phòng rơi xuống đất. ngoài ra, cần cắt tỉa thường xuyên để phát triển tán lá, thân mau vươn cao.
I.3.3  Già trị thẩm mỹ
- Cây P.Selloum hiện nay có giá trị thẩm mỹ rất cao. Cây thường dùng làm vật trang trí trong nhà và văn phòng làm việc những nơi có điều kiện ánh sáng thấp. Cây có hình dáng gọn gàng, đẹp, lá cây hình dáng lạ xanh tươi quanh năm, cây rất được ưa chuộng tại Mỹ và Nhật…

Ngoài ra với hình dáng lá đẹp, bống láng, xanh tươi lâu tàn (có thể xanh tươi hơn 6 tháng sau khi cắt cành ) có thể dùng để trang trí đệm cho các bó hoa, cắm bình hoa
I.3.4  Giá trị kinh tế






- Hiện nay cây P.Selloum được trồng với mục đích thương mại là chủ yếu.Cây P.Selloum có hình dáng đẹp, thích hợp với điều kiện ánh sáng yếu, dễ chăm sóc ít tốn công phù hợp với cuộc sống thành thị. Do đó cây P.Selloum được dùng để trang trí nội thất, nó rất được ưa chuộng ở các nước phương tây, Mỹ và 1 số nước châu á như Nhật, Trung Quốc…do có thị trường tiêu thụ mạnh rộng nên có thể mang lại giá trị kinh tế rất cao. Cây P.Selloum mới được du nhập vào việt nam trong vì năm gần đây. Cây P.Selloum, đặc biệt rất thích hợp với khí hậu nước ta.Hiện nay, giá một cây P.Selloum trên thị trường rất cao, cây 1 năm tuổi có giá từ 50.000-70.000 ngàn đồng.








HIỆU QUẢ KINH TẾ CAO TỪ MÔ HÌNH TRỒNG BÀ CHÂN VỊT


   Hoa kiểng là một trong những chủ trương lớn trong chương trình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi của Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với con tôm, con bò sữa, cây rau an toàn, cây dứa Cayene thì những năm gần đây  hoa kiểng đã chính minh hiệu quả kinh tế rất cao mang lại từ việc trồng, sản xuất và kinh doanh.
   Cùng với quá trình đô thị hoá, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, do đó càng có nhiều mô hình trồng hoa kiểng vượt lên trong thời điểm này. Ngoài những loại hoa cắt cành thông thường như hoa cúc các loại, cẩm chướng, hoa hồng đến các loại cao cấp hơn như hoa loa kèn, hoa lan,…để tạo nên vẻ đẹp hoàn mỹ từ các giỏ hoa, lãng hoa,…thì bản thân nó phải có nền xanh cơ bản. Một trong những yếu tố góp phần tạo vẽ đẹp hoàn mỹ phải đó là màu xanh của các loại kiểng lá. Với diện tích trồng hoa kiểng hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh 1.012 ha (Nguồn: Trung tâm Khuyến nông TP.HCM, năm 2007), trong đó khoảng 5% diện tích trồng kiểng lá. Trầu bà chân vịt là một loại kiểng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Với 10.000 cây cho diện tích 1.000 m2 trồng trầu bà chân vịt, bình quân hằng tháng thu nhập không dưới 7 triệu đồng.
   + Trầu bà chân vịt có tên khoa học là:
Philodendron bipinnatifidum   + Họ Ráy: Araceae.
Trầu bà chân vịt là cây thân cỏ, sống lâu năm, thân cây to, có thể dài đến vài mét, đốt thân có rễ sinh khí. Lá hình tim, xẻ thuỳ rất mạnh – đây là điểm đặc trưng của giống này.
 
1/ Thời vụ  
- Trồng quanh năm, cây sinh trưởng và phát triển tốt trong việc chủ động nguồn nước. 
2/ Đất trồng, thiết kế nhà trồng   
- Đất trồng thường là đất chứa nhiều mùn nhưng phải tơi xốp. Đặc biệt, nếu trồng trầu bà chân vịt dưới giàn treo phong lan là một mô hình lý tưởng để “lấy ngắn nuôi dài” trong giai đoạn đầu khi lan chưa có hoa.
   - Điều đặc biệt đối với loại cây trồng này là chịu bóng râm.
 
3/ Khoảng cách trồng  
- Cây cách cây 30cm
   - Hàng cách hàng 30 cm.
   - Trường hợp không trồng thành hàng mà trồng trong chậu (với kích thích chậu từ 40 -50 x 25 – 30 cm), mỗi chậu trồng 1 cây.

4/ Giống   
- Trầu bà chân vịt: cây giống cao khoảng 20 - 25 cm tính từ gốc cây đến hết chiều dài lá lớn nhất, cây mang 4 – 6 lá.
   - Nhân giống: Khi cây trưởng thành sẽ hình thành nhiều chồi non, sau đó phát triển thành cây con, lúc này ta có thể tách để trồng ra mới.

 5/ Chăm sóc 
  - Phân bón:
    + Lượng phân bón cho 1.000 m2 như sau:
    + Phân chuồng hoai mục: 5 tấn
    + Phân lân 10 kg
    + Tro trấu 40 bao
    + Phân urê : 10 - 15 kg hoặc DAP (sử dụng cho 3 – 5 lần bón thúc)
   - Tưới nước: 1 lần/ngày, vào những ngày mưa thì không cần tưới.
   - Sâu bệnh:
    + Vì mục đích của việc trồng trầu bà chân vịt là lấy lá nên phải giữ bộ lá đẹp, mướt, không sâu bệnh. Trên cây trầu bà chân vịt chú ý sâu cắn lá (sử dụng thuốc trừ sâu Sherpa hoặc Sherzon để phòng trị).

 6/ Thu hoạch  
- Sau khi trồng 5 – 7 tháng là có thể thu hoạch được. Chọn những lá có kích thước lớn, đều và đẹp. Bình quân mỗi cây có thể thu từ 5 – 10 lá tuỳ theo tình hình cây.
Hà Phương
"Vua" trầu bà chân vịt 
27/02/2010 08:02

(HNM) - Trong lúc nhiều gia đình phải bán nhà, bán đất bỏ đi làm thuê để kiếm sống vì không chịu nổi cảnh 1 tháng có đến gần 15 ngày bị triều cường nhấn chìm trong biển nước thì có một con người vẫn cứ kiên nhẫn, miệt mài bám vườn, bám đất với hy vọng đất không phụ lòng người. Và rồi cuối cùng đã biến vùng đất "chết" này trở thành những vườn hoa, cây cảnh xanh tươi khoe sắc. Đó chính là "ông vua" trầu bà chân vịt (loại cây sử dụng lá để cắm hoa) Hai Phụng (ở tổ 34, khu phố 2, phường An Phú Đông, quận 12).
Anh Phụng giữa vườn cây trầu bà chân vịt.

Làm người "đưa đò"

Để đến được "lãnh địa" của Hai Phụng (tên thường gọi của anh Bùi Văn Phụng), chúng tôi phải vượt qua bến đò An Phú Đông, rồi đi hết đường Vườn Lài, sau đó men theo bờ kè sông Rạch Gia - con đường đất gồ ghề, lầy lội do những đợt triều cường liên tiếp " tấn công". Gặp Hai Phụng trong căn biệt thự tọa lạc trên khuôn viên đất rộng gần 10.000m2, anh hồ hởi khoe: Có được ngôi biệt thự này là nhờ tích góp mấy năm trồng hoa đồng tiền đấy. Khoảng gần chục năm trước, mỗi bó hoa đồng tiền giá bán 20 nghìn đồng, lúc đó tôi trở thành "ông trùm" của hoa đồng tiền ở các chợ hoa lớn của thành phố, hễ đến chợ nào có bán hoa đồng tiền thì đó là sản phẩm của Hai Phụng. Vì lúc đó loại hoa này rất hiếm ở TP, nhưng nhu cầu cao, sản xuất ra bao nhiêu cũng không đủ bán, nên nguồn lợi thu về rất lớn.

Thế nhưng có một điều như đã trở thành tiền lệ đối với anh, cứ sau vài năm thành công với một loại hoa, cây cảnh nào thì y như rằng, những loại hoa, cây cảnh đó được nhiều người khác sản xuất và giá cả đi xuống, buộc anh phải chuyển sang loại hoa, cây cảnh khác. Cứ thế, anh chuyển sang trồng không biết bao nhiêu loại hoa, cây cảnh, từ vạn thọ trắng, hoa đồng tiền đến mai ghép, trầu bà chân vịt… để tìm "lối thoát". Giờ đây, khi anh đang thành công với loại trầu bà chân vịt thì một số nông dân cũng bắt đầu trồng loại cây này. Hai Phụng tâm sự: "Cuộc đời tôi trải qua không biết bao nhiêu nghề, nhất là nghề trồng hoa, cây cảnh, loại cây nào tôi cũng có thể trồng được, có lẽ là do thừa hưởng cái gen trồng hoa, cây cảnh từ gia đình trước đây”.

… và nỗi niềm trăn trở
Hiện nay, trầu bà chân vịt của anh đang rất "hot", nhiều thương lái tìm đến "săn hàng" liên tục với giá bán trung bình từ 700 đồng/lá đến 1.000 đồng/lá, đó là chưa kể trầu bà Pháp, trầu bà Mỹ có giá bán 3 nghìn đồng/lá và 5 nghìn đồng/lá. Như vậy, chỉ tính riêng hơn 6.000 chậu trầu bà chân vịt, mỗi ngày anh xuất bán từ 3 nghìn đến 5 nghìn lá thì đã có thu nhập khá cao, nhưng anh vẫn chưa dám mở rộng diện tích, không phải vì sợ giá cả đi xuống, mà anh sợ triều cường sẽ làm mất cả chì lẫn chài. Anh cho biết, 2 loại trầu bà Pháp và trầu bà Mỹ bán rất chạy với giá cao, nhưng anh cũng chỉ dám trồng được hơn chục chậu, mà không thể nhân rộng hơn, bởi giá con giống của 2 loại trầu này khá cao, nếu lỡ bị triều cường "đánh sập" thì coi như phá sản!

Để trồng được một số lượng hoa, cây cảnh như hiện nay, Hai Phụng đã không biết bao nhiêu lần "thổi cát" để nâng nền đất lên cao. Vậy mà năm nào triều cường cũng tràn vào vườn, ngập cả mét, làm chết không ít mai ghép, trầu bà chân vịt. Do chi phí đầu tư cho mai ghép quá lớn nên nhiều năm không có lãi, thậm chí có năm còn bị lỗ nặng, anh đành chấp nhận trồng cầm chừng, không đầu tư vào loại mai này nữa. Thật sự thì những năm gần đây, các nghệ nhân mai ghép ở quận 12 cũng rất thành công, thu nhập khá cao, nhưng với anh thì không thể. Đó là một nỗi buồn khôn tả đối với anh. Giờ đây, Hai Phụng chỉ hy vọng dự án đê bao sông Vàm Thuật sớm được hoàn thành, để triều cường không còn là nỗi ám ảnh thì anh mới dám dốc sức đầu tư mạnh hơn nữa để phát triển các loại hoa, cây cảnh.

Hồ Văn